Một số điều cần biết cho các bạn mới tập làm thơ

Thảo luận trong 'Thơ' bắt đầu bởi Lie, 17/1/16.

  1. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    Để giúp các bạn mới tập làm thơ không bị nhầm lẫn giữa thơ và văn xuôi. Mình lập ra topic này để giúp mọi người có cái nhìn rõ nét và khái quát hơn về thơ. Dễ dàng nắm bắt được các thể loại, cách gieo vần và niêm luật. Có trong tay các kiến thức cơ bản cần thiết trước khi sáng tác. Mong các bạn bỏ ra thời gian để tham khảo. Hy vọng nó sẽ giúp ích được cho các bạn!
    Chúc các bạn thành công!
    Mục lục:
    I. Cách làm thơ Lục Bát
    II. Cách làm thơ song thất lục bát
    III. Thơ 4 chữ
    IV. Thơ Ngũ Ngôn (thơ 5 chữ)
    V. Thơ bát ngôn (thơ sáu chữ)
    VI. Thơ bảy chữ (thơ Đường luật)

    VII. Thơ tám chữ





     
    Chỉnh sửa cuối: 19/1/16
  2. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    I. Thơ Lục Bát:
    (Nguồn:http://readzo.com/posts/20804-huo-ng-da-n-la-m-tho-tho-lu-c-ba-t.htm)

    Thơ Lục Bát là thể thơ đặc biệt của Việt Nam, mà Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất. Với sự uyển chuyển nhịp nhàng của vần gieo và thanh điệu, thơ Lục Bát rất dễ thuộc, dễ nhớ, mà phổ nhạc lên thì cực kỳ ngọt ngào.
    1. Cách làm thơ Lục Bát:


    - Làm thơ, ấy là sắp xếp từ ngữ, câu chữ sao cho có sự đồng điệu, nhịp nhàng, uyển chuyển. Để làm được thơ Lục Bát, chúng ta cần nắm rõ cách gieo vần của thể loại thơ này:

    + Tiếng thứ 6 của câu Lục vần với tiếng thứ 6 của câu Bát.
    + Tiếng thứ 8 của câu Bát vần với tiếng thứ 6 của câu Lục tiếp theo.

    larger_hyz1440256155.png

    Ngoài quy tắc về gieo vần, thơ Lục Bát cũng có quy tắc dành cho thanh điệu như sau:

    larger_ajz1440256028.png

    Vd:
    Bỗng dưng buồn bã không gian
    Mây bay lũng thấp giăng màn âm u
    Nai cao gót lẫn trong mù
    Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.
    (Huy Cận)

    Các bạn có thể thấy, mặc dù trong câu Bát, tiếng thứ 6 và tiếng thứ 8 đều là thanh bằng, nhưng bắt buộc phải có một tiếng thanh huyền và một tiếng thanh không.

    larger_lyn1440256217.png

    Bằng - Trắc là gì? Dành cho bạn nào chưa hiểu rõ:

    • Thanh Bằng: gồm thanh huyền (dấu huyền) và thanh không (không dấu).
    • Thanh Trắc: gồm thanh sắc (dấu sắc), hỏi (dấu hỏi), ngã (dấu ngã), nặng (dấu nặng).
    - Các thể thơ cổ điển luôn quy định luật Bằng Trắc rất nghiêm ngặt. Thơ hiện đại bây giờ dường như không cần quan tâm quá nhiều đến điều này, tuy nhiên, nếu bạn nắm được cách sử dụng Bằng Trắc, bạn có thể mang giai điệu gieo lên từng câu chữ.

    - Có nhiều bài thơ Lục Bát phá cách một chút khi gieo vần bằng trắc mà vẫn rất hay:

    larger_asy1440256336.png

    Một số liên vần được xem là vần với nhau, các bạn có thể dùng kèm để câu thơ thêm phong phú và không bị "bí vần":
    - Ai: Oai, Ay, Ây, Uây
    - At: Ac, Oat
    - Eo: Oeo
    - Ư: Ưu
    - Uông: Uôn
    - Ao: Au, Âu
    - En: Oen, Eng
    - Et: Ec
    - Uc: Ut

    ...

    Bao gồm cả những vần cùng bắt đầu từ một nguyên âm. Tuy vậy, gieo vần chính xác vẫn luôn khiến bài thơ uyển chuyển nhất, không nên lạm dụng những liên vần.

    2.Một số dạng Lục Bát biến thể:

    • Tiếng 6 của câu Lục có thể vần với tiếng 4 của câu Bát, khi đó tiếng thứ 2 và 6 của câu Bát sẽ đổi thành thanh trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu Bát.
    Vd:
    Người nách thước, kẻ tay đao
    Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi.
    (Nguyễn Du)

    larger_qqa1440256464.png

    • Lục Bát gieo vần trắc:
    - Trong kho tàng thơ Lục Bát, có một số ít bài thơ đặc biệt được gieo vần trắc. Những bài thơ lục bát đặc biệt này thường chỉ có hai câu và chủ yếu là ca dao, tục ngữ. Cách gieo vần của thơ Lục Bát vần trắc như sau:


    + Câu Lục có kết cấu Bằng – Bằng – Trắc.
    + Câu Bát có kết cấu Bằng – Trắc – Trắc – Bằng.


    larger_lyn1440256546.png

    Vần được gieo ở tiếng thứ 6 của câu Lục và tiếng thứ 6 hoặc 4 của câu Bát.
     
    Chỉnh sửa cuối: 17/1/16
  3. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    II. Thơ song thất lục bát:
    Thơ song thất lục bát (hai 7+6-8), cũng được gọi là lục bát gián thất (6-8 xen hai 7) hay thể ngâm là một thể văn vần (thơ) đặc thù của Việt Nam. Một số tác phẩm lớn trong văn chương Việt Nam, trong đó có bản dịch Chinh Phụ Ngâm ra quốc âm đã được viết theo thể thơ này.

    1. Cách làm thơ:
    - Thơ song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ.

    - Chữ cuối câu bảy trên vần với chữ thứ 5 câu bảy dưới, chữ cuối câu bảy dưới vần với chữ cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát. Và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo.

    Câu số Vần:
    1 - - T - B - T
    2 - - B - T - B
    3 - B - T - B
    4 - B - T - B T B
    5 - - T/B - B - T
    6 - - B - T - B
    7 - B - T - B
    8 - B - T - B T B
    * Một đoạn song thất lục bát tiêu biểu:

    Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
    Xanh kia thăm thẳm từng trên
    Nào ai gây dựng cho nên nỗi này
    Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
    Khói Cam Tuyền mờ mịt khúc mây
    Chín tầng gươm báu trao tay
    Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh
    (Chinh Phụ Ngâm)

    Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
    Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
    Thành liền mong tiến bệ rồng,
    Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
    Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
    Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
    Giã nhà đeo bức chiến bào,
    Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
    (Đặng Trần Côn)
     
  4. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    III. Thơ 4 chữ:


    - Thơ bốn chữ là thể thơ đơn giản nhất, tuy nhiên, nếu người viết không biết vận dụng ngôn từ một cách khéo léo thì rất dễ trở thành 1 bài vè.
    1. Cách làm thơ 4 chữ:
    - Thơ 4 chữ thể thơ khá đơn giản về về niêm luật. Để cho bài thơ có âm điệu ta chỉ cần chú ý đôi chút đến luật bằng trắc ở chữ thứ 2 và chữ thứ 4 trong câu. Nếu chữ thứ 2 là 1 thanh bằng (B) thì chữ thứ 4 là thanh trắc (T) và ngược lại, nếu chữ thứ 2 là thanh trắc thì chữ thứ 4 là bằng. Tuy nhiên, đôi khi để tạo điểm nhấn cho bài thơ cũng như tạo hình tượng nghệ thuật, các nhà thơ đôi khi cũng không tuân thủ theo đúng quy luật của thể thơ.

    - 2 - 4
    - T - B
    - 2 - 4
    - B - T


    Cách gieo vần trong thể thơ 4 chữ được chia làm ba loại gồm: cách gieo vần tiếp, cách gieo vần tréo, cách gieo vần ôm và gieo vần ba tiếng.

    * Cách gieo vần tiếp:

    x B x T (vần 1)
    x B x T (vần 1)
    x T x B (vần 2)
    x T x B (vần 2)

    ví dụ:

    Ngày Xưa Hoàng Thị

    Em tan trường về
    Đường mưa nho nhỏ
    Chim non giấu mỏ
    Dưới cội hoa vàng
    Bước em thênh thang
    Áo tà nguyệt bạch
    Ôm nghiêng cặp sách
    Vai nhỏ tóc dài
    Anh đi theo hoài
    Gót giầy thầm lặng
    Đường chiều úa nắng
    Mưa nhẹ bâng khuâng
    (Phạm Thiên Thư)

    * Cách gieo vần tréo:

    x B x T (v1)
    x T x B (v2)
    x B x T (v1)
    x T x B (v2)

    Ví dụ:
    Buổi Trưa Hè

    Buổi trưa lim dim
    Nghìn con mắt lá
    Bóng cũng nằm im
    Trong vườn êm ả.

    Bò ơi, bò nghỉ
    Sau buổi cày mai
    Có gì ngẫm nghĩ
    Nhai mãi, nhai hoài...

    (Huy Cận)

    * Cách gieo vần ba tiếng:

    x B x T (v1)
    x T x B (v1)
    x B x T (tự do)
    x T x B (v2)

    Sao biếc đầy trời
    Sầu trông viễn khơi
    Ðêm mờ im lặng
    Nhìn hạt sương rơi
    (Khổng Dương)

    * Cách gieo vần ôm:
    x B x B
    x B x T
    x B x T
    x T x T
    Em tan trường về
    Ðường mưa nho nhỏ
    Chim non giấu mỏ
    Dưới cội hoa vàng
    (Phạm Thiên Thư)
     
    Chỉnh sửa cuối: 18/1/16
  5. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    IV. Thơ Ngũ Ngôn (thơ 5 chữ)
    - Cũng giống như thơ 4 chữ, nếu chữ thứ 2 trong câu là bằng thì chữ thứ 4 là trắc và ngược lại. Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo.
    1. Cách làm thơ:

    * Cách gieo vần ôm:
    x B x T x (v1)
    x T x B x (v2)
    x B x T x (v2)
    x T x B x (v1)

    - Một khổ thơ gồm 4 câu, chữ cuối của câu 1 và chữ cuối của câu 4 vần với nhau, chữ cuối của câu 2 và chữ cuối của câu 3 vần với nhau.

    Ví dụ:
    Em không nghe rừng thu,
    Lá thu kêu xào xạc,
    Con nai vàng ngơ ngác
    Đạp trên lá vàng khô?
    (Lưu Trọng Lư)



    * Cách gieo vần tréo:
    x x b x T
    x x t x B (vần với câu 4)
    x x b x T
    x x t x B (vần với câu 2)

    Hoặc :

    x x t x B
    x x b x T (vần với câu 4)
    x x t x B
    x x b x T (vần với câu 2)

    Ví dụ:
    Hôm nọ em biếng học
    Khiến cho anh bất bình,
    Khẽ đánh em cái thước
    Vào bàn tay xinh xinh
    (Nguyễn Xuân Huy)

    * Cách gieo vần tiếp:
    x B x T B (vần)
    x T x B B (vần)
    x T x B T
    x B x T B (vần)

    x B x T T
    x T x B B (vần)
    x T x B T
    x B x T B (vần)

    Hoặc:

    x T x B B (vần)
    x B x T B (vần)
    x B x T T
    x T x B B (vần)
    x T x B T
    x B x T B (vần)
    x B x T T
    x T x B B (vần)

    - Chữ cuối của các câu 1 – 2 – 4 - 6 - 8 vần với nhau.


    * Cách gieo vần 3 tiếng:

    x x t x B (vần)
    x x t x B (vần)
    x x b x T
    x x t x B (vần)

    - Chữ cuối của các câu 1, 2 & 4 vần với nhau.

    Ví dụ:
    Đưa em về dưới mưa
    Nói năng chi cũng thừa
    Phất phơ đời sương gió
    Hồn mình gần nhau chưa?
    (Nguyễn Tất Nhiên)

    *Lưu ý: Luật bằng trắc chỉ giúp tăng nhạc điệu cho bài thơ. Bạn có thể tuân theo hoặc không.
     
  6. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    V. Thơ bát ngôn (thơ sáu chữ)


    1. Cách làm thơ:

    Dùng chữ cuối cùng, với cách gieo vần như vần chéo hoặc vần ôm:


    * Cách gieo vần tiếp:

    - Nếu bắt đầu là vần bằng:
    x x x T x B
    x x x B x T (vần với câu dưới)
    x x x B x T (vần với câu trên)
    x x x T x B (vần với câu dưới)
    x x x T x B (vần với câu trên)
    x x x B x T (vần với câu dưới)
    x x x B x T (vần với câu trên)
    x x x T x B

    - Nếu bắt đầu là vần trắc:
    x x x B x T
    x x x T x B (vần với câu dưới)
    x x x T x B (vần với câu trên)
    x x x B x T (vần với câu dưới)
    x x x B x T (vần với câu trên)
    x x x T x B (vần với câu dưới)
    x x x T x B (vần với câu trên)
    x x x B x T

    - Chữ cuối của câu 1 là bằng thì chữ cuối của câu 2 là trắc và ngược lại. Chữ cuối của câu 3 vần với chữ cuối của câu 2, các cặp bằng trắc cứ xen kẽ nối tiếp như vậy cho đến khi kết thúc bài thơ.


    * Cách gieo vần ôm:

    - Nếu bắt đầu là vần bằng:
    x x x T x B (vần với câu 4)
    x x x B x T (vần với câu 3)
    x x x B x T (vần với câu 2)
    x x x T x B (vần với câu 1)

    - Nếu bắt đầu là vần trắc :
    x x x B x T (vần với câu 4)
    x x x T x B (vần với câu 3)
    x x x T x B (vần với câu 2)
    x x x B x T (vần với câu 1)

    - Chữ cuối của câu 1 là bằng thì chữ cuối của câu 2 là trắc và ngược lại. Chữ cưới câu 1 và câu 4 vần nhau. Chữ cuối của câu 3 vần với chữ cuối của câu 2.

    Ví dụ:
    Nếu bước chân ngà có mỏi
    Xin em tựa sát lòng anh
    Ta đi vào tận rừng xanh
    Vớt cánh vông vàng bên suối
    (Đinh Hùng)

    *Cách gieo vần ba tiếng:

    - Nếu bắt đầu là vần bằng:
    x x x T x B (vần)
    x x x T x B (vần)
    x x x B x T
    x x x T x B (vần )

    - Nếu bắt đầu là vần trắc:
    x x x B x T (vần)
    x x x B x T (vần)
    x x x T x B
    x x x B x T (vần)

    *Cách gieo vần chéo:

    - Nếu bắt đầu là vần bằng:
    x x x T x B
    x x x B x T (vần với câu 4)
    x x x T x B
    x x x B x T (vần với câu 2)

    - Nếu bắt đầu là vần trắc:
    x x x B x T
    x x x T x B (vần với câu 4)
    x x x B x T
    x x x T x B (vần với câu 2)

    Ví dụ:
    Quê hương là gì hở mẹ
    Mà cô giáo dạy phải yêu
    Quê hương là gì hở mẹ
    Ai đi xa cũng nhớ nhiều
    (Đỗ Trung Quân - Quê Hương)
     
  7. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    THƠ 7 CHỮ (thơ Đường luật)

    1. Cách làm thơ:

    - Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:
    2 4 6
    bằng trắc bằng
    2 4 6
    trắc bằng trắc

    * Thơ thất ngôn tứ tuyệt 3 vần, luật bằng:

    Bảng luật:

    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)

    Ví dụ:
    Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
    Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
    Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
    Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người
    (Xuân Diệu)
    * Thơ thất ngôn tứ tuyệt 2 vần, luật bằng, vần bằng:

    Bảng luật:

    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)

    Ví dụ:

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
    (Hàn Mặc Tử)

    * Thơ thất ngôn tứ tuyệt 3 vần, luật trắc, vần bằng:

    Bảng luật:

    T - T - B - B - T - T - B (vần)
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)

    Ví dụ:

    Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,
    Hôm xưa em đến, mắt như lòng,
    Nở bừng ánh sáng. Em đi đến,
    Gót ngọc dồn hương, bước tỏa hồng.
    (Huy Cận)


    * Thơ thất ngôn tứ tuyệt 2 vần, luật trắc, vần bằng:

    BẢNG LUẬT:

    T - T - B - B - B - T - T
    B - B - T - T - T - B - B (vần)
    B - B - T - T - B - B - T
    T - T - B - B - T - T - B (vần)

    Ví dụ:
    Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn,
    Tuổi hai mươi đến, có ai ngờ!
    Một hôm trận gió tình yêu lại:
    Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ.
    (Huy Cận)
     
  8. Lie

    Lie Max
    • 93/98

    THƠ 8 CHỮ

    - Thơ 8 chữ là một thể thơ khá tự do, thông thường chỉ cần đúng cước vận mà không phải bị gò bó về luật.
    1. Cách làm thơ:

    * Bảng Luật :
    - Nếu bắt đầu là vần bằng :
    x x B x x T x B
    x x T x x B x T (vần với câu dưới)
    x x T x x B x T (vần với câu trên)
    x x B x x T x B (vần với câu dưới)
    .....

    - Nếu bắt đầu là vần trắc :
    x x T x x B x T
    x x B x X T x B (vần với câu dưới)
    x x B x x T x B (vần với câu trên)
    x x T x x B x T (vần với câu dưới)
    .....

    * Ghi chú:
    - B : phải là bằng
    - T : phải là trắc
    - x : bằng hoặc trắc đều được

    + Chữ cuối của câu 1 là bằng thì chữ cuối của câu 2 là trắc và ngược lại. Chữ cuối câu 2 vần với chữ cuối câu 3, chữ cuối câu 4 vần với chữ cuối câu 5,... các cặp bằng trắc cứ xen kẽ nối tiếp như vậy cho đến khi kết thúc bài thơ. Chữ cuối của câu lẻ vần với chữ thứ 5 hoặc chữ thứ 6 của câu chẵn liền ngay sau nó.
    + Về ngắt nhịp : Ngắt nhịp ở chữ thứ 3 và chữ thứ 5 (hoặc chữ thứ 6).
    + Về âm điệu : Trong một câu thì chữ thứ 3 nên dùng khác dấu với chữ cuối.

    Thông thường số câu trong một bài thơ 8 chữ là số chẵn, người ta hay làm với số câu chia hết cho 4.

    1. Vần liên tiếp:

    - Cứ hai vần bằng rồi đến hai vần trắc, hoặc hai vần trắc rồi đến hai vần bằng. Như vậy, câu 1 vần câu 2, câu 3 vần câu 4, hoặc là câu 2 vần câu 3, câu 4 vần câu 5.

    Thí dụ:
    Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!
    Tôi sẽ trách - cố nhiên, nhưng rất nhẹ
    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về...
    Tình mất vui khi đã vẹn câu thề
    Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở
    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
    Cho nghìn sau... lơ lửng... với nghìn xưa...
    (Ngập ngừng - Hồ Dzếnh)


    2. Vần chéo (Vần gián cách):

    - Một vần bằng rồi tới một vần trắc. Như vậy, câu 1 vần với câu 3, câu 2 vần với câu 4.


    Thí dụ:
    Trời xuân vắng, cỏ cây rên xào xạc
    Bóng đêm luôn hoảng hốt mãi không thôi.
    Gió xuân lạnh, ngàn sâu, thời ca hát
    Trăng xuân sầu, sao héo, cũng thôi cười.
    (Đêm xuân sầu - Chế Lan Viên)



    3. Vần ôm:


    - Câu 1 vần với câu 4, câu 2 vần câu 3.

    Thí dụ:
    Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng?
    Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay
    Trời nắng ngọt ngào... tôi ở lại đây
    Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng
    (Tuổi mười ba - Nguyên Sa)



     

Chia sẻ trang này